Tìm Kiếm

21 tháng 2, 2015

First Sunday of Lent (Feb 22, 2015)


First Reading (Gn 9:8-15)
A reading from the Book of Genesis
God said to Noah and to his sons with him:
“See, I am now establishing my covenant with you
and your descendants after you
and with every living creature that was with you:
all the birds, and the various tame and wild animals
that were with you and came out of the ark.
I will establish my covenant with you,
that never again shall all bodily creatures be destroyed
by the waters of a flood;
there shall not be another flood to devastate the earth.”
God added:
“This is the sign that I am giving for all ages to come,
of the covenant between me and you
and every living creature with you:
I set my bow in the clouds to serve as a sign
of the covenant between me and the earth.
When I bring clouds over the earth,
and the bow appears in the clouds,
I will recall the covenant I have made
between me and you and all living beings,
so that the waters shall never again become a flood
to destroy all mortal beings.”

Bài đọc I (St 9:8-15)
Thiên Chúa phán với ông Nô-ê và các con ông đang ở với ông rằng: “Đây Ta lập giao ước của Ta với các ngươi, với dòng dõi các ngươi sau này, và tất cả mọi sinh vật ở với các ngươi: chim chóc, gia súc, dã thú ở với các ngươi, nghĩa là mọi vật ở trong tàu đi ra, kể cả dã thú. Ta lập giao ước của Ta với các ngươi: mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy hủy diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá đất nữa.” Thiên Chúa phán: “Đây là dấu hiệu giao ước Ta đặt giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật ở với các ngươi, cho đến muôn thế hệ mai sau: Ta gác cây cung của Ta lên mây, và đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với cõi đất. Khi Ta cho mây kéo đến trên mặt đất và cây cung xuất hiện trong mây, Ta sẽ nhớ lại giao ước giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật, nghĩa là với mọi xác phàm; và nước sẽ không còn trở thành hồng thủy để tiêu diệt mọi xác phàm nữa.”

Responsorial Psalm (Ps 25:4-5, 6-7, 8-9.)
R. Your ways, O Lord, are love and truth to those who keep your covenant.
R. Tất cả đường lối Chúa đều là từ bi, trung tín dành cho ai giữ Giao Ước của Ngài.

Your ways, O LORD, make known to me; teach me your paths, Guide me in your truth and teach me,
for you are God my savior.
Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ. R/

Remember that your compassion, O LORD, and your love are from of old. In your kindness remember me, because of your goodness, O LORD. R/
Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời.Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến, nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng. R/

Good and upright is the LORD, thus he shows sinners the way. He guides the humble to justice, and he teaches the humble his way. R/
Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính, dạy cho biết đường lối của Người. R/

Second Reading (1 Pt 3:18-22)
A reading from the first Letter of Saint Peter
Beloved:
Christ suffered for sins once,
the righteous for the sake of the unrighteous,
that he might lead you to God.
Put to death in the flesh,
he was brought to life in the Spirit.
In it he also went to preach to the spirits in prison,
who had once been disobedient
while God patiently waited in the days of Noah
during the building of the ark,
in which a few persons, eight in all,
were saved through water.
This prefigured baptism, which saves you now.
It is not a removal of dirt from the body
but an appeal to God for a clear conscience,
through the resurrection of Jesus Christ,
who has gone into heaven
and is at the right hand of God,
with angels, authorities, and powers subject to him.
Verse Before The Gospel MT 4:4B

One does not live on bread alone,
but on every word that comes forth from the mouth of God.

Bài đọc II (1 Pr 3:18-22)
Chính Đức Ki-tô đã chịu chết một lần vì tội lỗi - Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương - hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh. Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm, tức là những người xưa đã không vâng phục Thiên Chúa, trong thời Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi, nghĩa là thời ông Nô-ê đóng tàu. Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước. Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em. Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời, đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền.

Gospel (Mk 1:12-15)
The Spirit drove Jesus out into the desert,
and he remained in the desert for forty days,
tempted by Satan.
He was among wild beasts,
and the angels ministered to him.

After John had been arrested,
Jesus came to Galilee proclaiming the gospel of God:
“This is the time of fulfillment.
The kingdom of God is at hand.
Repent, and believe in the gospel.”

Phúc âm (Mc 1:12-15)
Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người. Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”