Tìm Kiếm

25 tháng 10, 2026

Solemnity of All Saints, Liturgical Year A (November 1, 2026)

Daily Mass Reading Podcast for November 1, 2026


First Reading (Revelation 7:2-4, 9-14)

A reading from the Book of Revelation

I, John, saw another angel come up from the East,
holding the seal of the living God.
He cried out in a loud voice to the four angels
who were given power to damage the land and the sea,
"Do not damage the land or the sea or the trees
until we put the seal on the foreheads of the servants of our God."
I heard the number of those who had been marked with the seal,
one hundred and forty-four thousand marked
from every tribe of the children of Israel.

After this I had a vision of a great multitude,
which no one could count,
from every nation, race, people, and tongue.
They stood before the throne and before the Lamb,
wearing white robes and holding palm branches in their hands.
They cried out in a loud voice:

"Salvation comes from our God, who is seated on the throne,
and from the Lamb."

All the angels stood around the throne
and around the elders and the four living creatures.
They prostrated themselves before the throne,
worshiped God, and exclaimed:

"Amen. Blessing and glory, wisdom and thanksgiving,
honor, power, and might
be to our God forever and ever. Amen."

Then one of the elders spoke up and said to me,
"Who are these wearing white robes, and where did they come from?"
I said to him, "My lord, you are the one who knows."
He said to me,
"These are the ones who have survived the time of great distress;
they have washed their robes
and made them white in the Blood of the Lamb."

The word of the Lord.

Bài đọc 1 (Kh 7:2-4, 9-14)

Tôi thấy : Kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ.

Bài trích sách Khải huyền của thánh Gio-an tông đồ.

2 Tôi là Gio-an, tôi thấy một thiên thần mang ấn của Thiên Chúa hằng sống, từ phía mặt trời mọc đi lên. Thiên thần ấy lớn tiếng gọi bốn thiên thần khác, là những vị được quyền phá hại đất liền và biển cả. 3 Thiên thần ấy nói : “Xin đừng phá hại đất liền, biển cả và cây cối, trước khi chúng tôi đóng ấn trên trán các tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta”. 4 Rồi tôi nghe nói đến con số những người được đóng ấn : một trăm bốn mươi bốn ngàn người thuộc mọi chi tộc con cái Ít-ra-en.

9 Sau đó, tôi thấy : một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. 10 Họ lớn tiếng tung hô : “Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta.” 11 Tất cả các thiên thần đều đứng chung quanh ngai, chung quanh các Kỳ Mục và bốn Con Vật. Họ đều sấp mặt xuống, phủ phục trước ngai và thờ lạy Thiên Chúa mà tung hô 12 rằng :

“A-men ! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta
lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn,
danh dự, uy quyền và sức mạnh,
đến muôn thuở muôn đời ! A-men !”

13 Một trong các Kỳ Mục lên tiếng hỏi tôi : “Những người mặc áo trắng kia là ai vậy ? Họ từ đâu đến ?” 14 Tôi trả lời : “Thưa Ngài, Ngài biết đó.” Vị ấy bảo tôi : “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên.”

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (Psalm 24:1bc-2, 3-4ab, 5-6) - EM pages 275-276



R. (see 6) Lord, this is the people that longs to see your face.
Đ.Lạy Chúa, đây chính là dòng dõi những kẻ tìm kiếm thánh nhan Ngài.

The LORD's are the earth and its fullness;
the world and those who dwell in it.
For he founded it upon the seas
and established it upon the rivers.
R. Lord, this is the people that longs to see your face.
1 Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài,
làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư.
2 Nền trái đất, Người dựng trên biển cả,
đặt vững vàng trên làn nước mênh mông.
Đ. Lạy Chúa, đây chính là dòng dõi những kẻ tìm kiếm thánh nhan Ngài.

Who can ascend the mountain of the LORD?
or who may stand in his holy place?
One whose hands are sinless, whose heart is clean,
who desires not what is vain.
R. Lord, this is the people that longs to see your face.
3 Ai được lên núi Chúa ?
Ai được ở trong đền thánh của Người ?
4ab Đó là kẻ tay sạch lòng thanh,
chẳng mê theo ngẫu tượng.
Đ. Lạy Chúa, đây chính là dòng dõi những kẻ tìm kiếm thánh nhan Ngài.

He shall receive a blessing from the LORD,
a reward from God his savior.
Such is the race that seeks him,
that seeks the face of the God of Jacob.
R. Lord, this is the people that longs to see your face.
5 Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành,
được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng.
6 Đây chính là dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người,
tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp.
Đ. Lạy Chúa, đây chính là dòng dõi những kẻ tìm kiếm thánh nhan Ngài.

Second Reading (1 John 3:1-3)

A reading from the first Letter of Saint John

Beloved:
See what love the Father has bestowed on us
that we may be called the children of God.
Yet so we are.
The reason the world does not know us
is that it did not know him.
Beloved, we are God's children now;
what we shall be has not yet been revealed.
We do know that when it is revealed we shall be like him,
for we shall see him as he is.
Everyone who has this hope based on him makes himself pure,
as he is pure.

The word of the Lord.

Bài đọc 2 ( 1 Ga 3:1-3)

Thiên Chúa thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Gio-an tông đồ.

1Anh em thân mến,
anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào :
Người yêu đến nỗi
cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa
- mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.
Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta,
là vì thế gian đã không biết Người.
2Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa ;
nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ.
Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện,
chúng ta sẽ nên giống như Người,
vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
3Phàm ai đặt hy vọng như thế vào Đức Ki-tô
thì làm cho mình nên thanh sạch
như Người là Đấng thanh sạch.

Đó là Lời Chúa.

Hallelujah (Matthew 11:28)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Come to me, all you who labor and are burdened,
and I will give you rest, says the Lord.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (Mt 11:28)

Hallelujah. Hallelujah. Chúa nói : Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Hallelujah.

Gospel (Matthew 5:1-12a)

A reading from the holy Gospel according to Saint Mathew

When Jesus saw the crowds, he went up the mountain,
and after he had sat down, his disciples came to him.
He began to teach them, saying:

"Blessed are the poor in spirit,
for theirs is the Kingdom of heaven.
Blessed are they who mourn,
for they will be comforted.
Blessed are the meek,
for they will inherit the land.
Blessed are they who hunger and thirst for righteousness,
for they will be satisfied.
Blessed are the merciful,
for they will be shown mercy.
Blessed are the clean of heart,
for they will see God.
Blessed are the peacemakers,
for they will be called children of God.
Blessed are they who are persecuted for the sake of righteousness,
for theirs is the Kingdom of heaven.
Blessed are you when they insult you and persecute you
and utter every kind of evil against you falsely because of me.
Rejoice and be glad,
for your reward will be great in heaven."

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng (Mt 5:1-12a)

Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. 2 Người lên tiếng dạy họ rằng :

3“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
4Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
5Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
6Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
7Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
8Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
9Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.
11Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại
và vu khống đủ điều xấu xa.
12aAnh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”

Đó là Lời Chúa.

Prayer of the Faithful




19 tháng 10, 2026

Hymns for the Thirtieth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (October 25, 2026)

 -Entrance Hymn: ES # 165 “Gather Us Together”


-Responsorial Psalm (Psalm 18:2-3, 3-4, 47, 51) - EM page 233



R. (2) I love you, Lord, my strength.
Đ. Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con.

I love you, O LORD, my strength,
O LORD, my rock, my fortress, my deliverer.
R. I love you, Lord, my strength.
2 Con yêu mến Ngài,
lạy Chúa là sức mạnh của con ;
3a lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ,
là Đấng giải thoát con.
Đ. Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con.

My God, my rock of refuge,
my shield, the horn of my salvation, my stronghold!
Praised be the LORD, I exclaim,
and I am safe from my enemies.
R. I love you, Lord, my strength.
3bc Lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn,
là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng,
là thành trì bảo vệ.
4 Tôi kêu cầu Chúa
là Đấng xứng muôn lời ngợi khen,
và tôi được cứu thoát khỏi quân thù.
Đ. Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con.

The LORD lives and blessed be my rock!
Extolled be God my savior.
You who gave great victories to your king
and showed kindness to your anointed.
R. I love you, Lord, my strength.
47 Đức Chúa vạn vạn tuế !
Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn.
Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi,
51ab Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao
cho Đức Vua chính Người đã lập.
Đ. Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con.

Hallelujah (John 14:23)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Whoever loves me will keep my word, says the Lord,
and my Father will love him and we will come to him.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (Ga 14:23)

Hallelujah. Hallelujah. Chúa nói : Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy. Hallelujah.

Prayer of the Faithful


-Offertory Hymn: ES # 240 "Christify"


-Communion Hymn: ES # 232 “There Is A Longing”


-Recessional Hymn: ES # 384 “Be With Us, Mary”



The Holy Spirit Choir

18 tháng 10, 2026

Thirtieth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (October 25, 2026)

Daily Mass Reading Podcast for October 25, 2026


First Reading (Exodus 22:20-26)

A reading from the Book of Exodus

Thus says the LORD:
"You shall not molest or oppress an alien,
for you were once aliens yourselves in the land of Egypt. 
You shall not wrong any widow or orphan. 
If ever you wrong them and they cry out to me,
I will surely hear their cry. 
My wrath will flare up, and I will kill you with the sword;
then your own wives will be widows, and your children orphans.

"If you lend money to one of your poor neighbors among my people,
you shall not act like an extortioner toward him
by demanding interest from him. 
If you take your neighbor's cloak as a pledge,
you shall return it to him before sunset;
for this cloak of his is the only covering he has for his body. 
What else has he to sleep in?
If he cries out to me, I will hear him; for I am compassionate."

The word of the Lord.

Bài đọc 1 (Xh 22:20-26)

Nếu các ngươi ức hiếp mẹ goá con côi, thì cơn giận Ta sẽ bốc lên chống lại các ngươi.

Bài trích sách Xuất hành.

20 Đức Chúa phán thế này : Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập. 21 Mẹ goá con côi, các ngươi không được ức hiếp. 22 Nếu ngươi ức hiếp mà nó kêu cứu Ta, ắt Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu. 23 Cơn giận Ta sẽ bốc lên, Ta sẽ cho gươm chém giết các ngươi : thế là vợ các ngươi sẽ thành goá bụa, và con các ngươi sẽ thành côi cút.

24 Nếu ngươi cho một người trong dân Ta, một người nghèo ở với ngươi vay tiền, thì ngươi không được xử với nó như chủ nợ, không được bắt nó trả lãi.

25 Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm, thì ngươi phải trả lại cho nó trước khi mặt trời lặn. 26 Nó chỉ có cái đó để đắp, để làm áo che thân ; nó sẽ lấy gì mà ngủ ? Nó mà kêu cứu Ta, Ta sẽ nghe nó, vì Ta vốn nhân từ.

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (Psalm 18:2-3, 3-4, 47, 51) - EM page 233



R. (2) I love you, Lord, my strength.
Đ. Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con.

I love you, O LORD, my strength,
O LORD, my rock, my fortress, my deliverer.
R. I love you, Lord, my strength.
2 Con yêu mến Ngài,
lạy Chúa là sức mạnh của con ;
3a lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ,
là Đấng giải thoát con.
Đ. Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con.

My God, my rock of refuge,
my shield, the horn of my salvation, my stronghold!
Praised be the LORD, I exclaim,
and I am safe from my enemies.
R. I love you, Lord, my strength.
3bc Lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn,
là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng,
là thành trì bảo vệ.
4 Tôi kêu cầu Chúa
là Đấng xứng muôn lời ngợi khen,
và tôi được cứu thoát khỏi quân thù.
Đ. Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con.

The LORD lives and blessed be my rock!
Extolled be God my savior.
You who gave great victories to your king
and showed kindness to your anointed.
R. I love you, Lord, my strength.
47 Đức Chúa vạn vạn tuế !
Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn.
Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi,
51ab Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao
cho Đức Vua chính Người đã lập.
Đ. Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con.

Second Reading (1 Thessalonians 1:5c-10)

A reading from the first Letter of Saint Paul to the Thessalonians

Brothers and sisters:
You know what sort of people we were among you for your sake. 
And you became imitators of us and of the Lord,
receiving the word in great affliction, with joy from the Holy Spirit,
so that you became a model for all the believers
in Macedonia and in Achaia.
For from you the word of the Lord has sounded forth
not only in Macedonia and in Achaia,
but in every place your faith in God has gone forth,
so that we have no need to say anything. 
For they themselves openly declare about us
what sort of reception we had among you,
and how you turned to God from idols
to serve the living and true God
and to await his Son from heaven,
whom he raised from the dead,
Jesus, who delivers us from the coming wrath.

The word of the Lord.

Bài đọc 2 (1 Tx 1:5c-10)

Anh em đã từ bỏ ngẫu tượng, để phụng sự Thiên Chúa và chờ đợi Con của Người.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.

5c Thưa anh em, anh em biết, khi ở với anh em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu ích cho anh em ; 6 còn anh em, anh em đã bắt chước chúng tôi và noi gương Chúa, khi đón nhận lời Chúa giữa bao nỗi gian truân với niềm vui do Thánh Thần ban : 7 bởi vậy anh em đã nên gương cho mọi tín hữu ở miền Ma-kê-đô-ni-a và miền A-khai-a. 8 Quả thế, từ nơi anh em, lời Chúa đã vang ra, không những ở Ma-kê-đô-ni-a và A-khai-a, mà đâu đâu người ta cũng nghe biết lòng tin anh em đặt vào Thiên Chúa, khiến chúng tôi không cần phải nói gì thêm nữa. 9 Khi nói về chúng tôi, người ta kể lại chúng tôi đã được anh em tiếp đón làm sao, và anh em đã từ bỏ ngẫu tượng mà quay về với Thiên Chúa thế nào, để phụng sự Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa thật, 10 và chờ đợi Con của Người từ trời ngự đến, người Con mà Thiên Chúa đã cho trỗi dậy từ cõi chết, là Đức Giê-su, Đấng cứu chúng ta thoát cơn thịnh nộ đang đến.

Đó là Lời Chúa.

Hallelujah (John 14:23)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Whoever loves me will keep my word, says the Lord,
and my Father will love him and we will come to him.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (Ga 14:23)

Hallelujah. Hallelujah. Chúa nói : Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy. Hallelujah.

Gospel (Matthew 22:34-40)

A reading from the holy Gospel according to Saint Matthew

When the Pharisees heard that Jesus had silenced the Sadducees,
they gathered together, and one of them,
a scholar of the law tested him by asking,
"Teacher, which commandment in the law is the greatest?" 
He said to him,
"You shall love the Lord, your God,
with all your heart,
with all your soul,
and with all your mind.
This is the greatest and the first commandment.
The second is like it:
You shall love your neighbor as yourself. 
The whole law and the prophets depend on these two commandments."

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng (Mt 22:34-40)

Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và yêu người thân cận như chính mình.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

34 Khi ấy, nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. 35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng : 36 “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” 37 Đức Giê-su đáp : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. 38 Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất. 39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 40 Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.”

Đó là Lời Chúa.

Prayer of the Faithful





13 tháng 10, 2026

Hymns for the Twenty-ninth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (October 18, 2026)

  -Entrance Hymn: ES # 209 “Forth In The Peace Of Christ We Go”


-Responsorial Psalm (Psalm 96:1, 3, 4-5, 7-8, 9-10) -  EM pages 231-232



R. (7b) Give the Lord glory and honor.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Sing to the LORD a new song;
sing to the LORD, all you lands.
Tell his glory among the nations;
among all peoples, his wondrous deeds.
R. Give the Lord glory and honor.
1 Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu !
3 kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển,
cho mọi nước hay những kỳ công của Người.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

For great is the LORD and highly to be praised;
awesome is he, beyond all gods.
For all the gods of the nations are things of nought,
but the LORD made the heavens.
R. Give the Lord glory and honor.
4 Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng,
khả tôn khả uý hơn chư thần,
5 vì chư thần các nước thảy đều hư ảo,
còn Đức Chúa, Người sáng tạo trời cao.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Give to the LORD, you families of nations,
give to the LORD glory and praise;
give to the LORD the glory due his name!
Bring gifts, and enter his courts.
R. Give the Lord glory and honor.
7 Hãy dâng Chúa, hỡi các dân các nước,
dâng Chúa quyền lực và vinh quang,
8a hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Worship the LORD, in holy attire;
tremble before him, all the earth;
say among the nations: The LORD is king,
he governs the peoples with equity.
R. Give the Lord glory and honor.
8b Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa,
9 và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện,
toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan.
10ac Hãy nói với chư dân : Chúa là Vua hiển trị,
Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Hallelujah (Philippians 2:15d, 16a)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Shine like lights in the world
as you hold on to the word of life.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (Pl 2:15d, 16a)

Hallelujah. Hallelujah. Giữa thế gian, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòng trời, là làm sáng tỏ lời ban sự sống. Hallelujah.

Prayer of the Faithful


-Offertory Hymn: "Lord, We Gather Today"



-Communion Hymn: ES # 231 “These Alone Are Enough”


-Recessional Hymn: ES # 382 “O Holy Mary”



The Holy Spirit Choir

11 tháng 10, 2026

Twenty-ninth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (October 18, 2026)

Daily Mass Reading Podcast for October 18, 2026


First Reading (Isaiah 45:1, 4-6)

A reading from the Book of the Prophet Isaiah

Thus says the LORD to his anointed, Cyrus,
whose right hand I grasp,
subduing nations before him,
and making kings run in his service,
opening doors before him
and leaving the gates unbarred:
For the sake of Jacob, my servant,
of Israel, my chosen one,
I have called you by your name,
giving you a title, though you knew me not.
I am the LORD and there is no other,
there is no God besides me.
It is I who arm you, though you know me not,
so that toward the rising and the setting of the sun
people may know that there is none besides me.
I am the LORD, there is no other.

The word of the Lord.

Bài đọc 1 (Is 45:1, 4-6)

Đức Chúa đã cầm lấy tay phải vua Ky-rô để bắt các dân tộc suy phục ông.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

1Đức Chúa phán với kẻ Người đã xức dầu, với vua Ky-rô
- Ta đã cầm lấy tay phải nó,
để bắt các dân tộc suy phục nó,
Ta tước khí giới của các vua,
mở toang các cửa thành trước mặt nó,
khiến các cổng không còn đóng kín nữa.
4Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp,
và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en,
Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu,
dù ngươi không biết Ta.
5Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác ;
chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta.
Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ,
6để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng
chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta.
Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác.

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (Psalm 96:1, 3, 4-5, 7-8, 9-10) -  EM pages 231-232



R. (7b) Give the Lord glory and honor.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Sing to the LORD a new song;
sing to the LORD, all you lands.
Tell his glory among the nations;
among all peoples, his wondrous deeds.
R. Give the Lord glory and honor.
1 Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu !
3 kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển,
cho mọi nước hay những kỳ công của Người.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

For great is the LORD and highly to be praised;
awesome is he, beyond all gods.
For all the gods of the nations are things of nought,
but the LORD made the heavens.
R. Give the Lord glory and honor.
4 Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng,
khả tôn khả uý hơn chư thần,
5 vì chư thần các nước thảy đều hư ảo,
còn Đức Chúa, Người sáng tạo trời cao.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Give to the LORD, you families of nations,
give to the LORD glory and praise;
give to the LORD the glory due his name!
Bring gifts, and enter his courts.
R. Give the Lord glory and honor.
7 Hãy dâng Chúa, hỡi các dân các nước,
dâng Chúa quyền lực và vinh quang,
8a hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Worship the LORD, in holy attire;
tremble before him, all the earth;
say among the nations: The LORD is king,
he governs the peoples with equity.
R. Give the Lord glory and honor.
8b Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa,
9 và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện,
toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan.
10ac Hãy nói với chư dân : Chúa là Vua hiển trị,
Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.

Second Reading (1 Thessalonians 1:1-5b)

A reading from the first Letter of Saint Paul to the Thessalonians

Paul, Silvanus, and Timothy to the church of the Thessalonians
in God the Father and the Lord Jesus Christ:
grace to you and peace.
We give thanks to God always for all of you,
remembering you in our prayers,
unceasingly calling to mind your work of faith and labor of love
and endurance in hope of our Lord Jesus Christ,
before our God and Father,
knowing, brothers and sisters loved by God,
how you were chosen.
For our gospel did not come to you in word alone,
but also in power and in the Holy Spirit and with much conviction.

The word of the Lord.

Bài đọc 2 (1 Tx 1:1-5b)

Chúng tôi nhớ đến lòng tin, lòng mến và lòng trông cậy của anh em.

Khởi đầu thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.

1 Chúng tôi là Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê, kính gửi Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca ở trong Thiên Chúa Cha, và trong Chúa Giê-su Ki-tô. Chúc anh em được ân sủng và bình an.

2 Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện, 3 và trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta, chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô.

4 Thưa anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em, 5b vì khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.

Đó là Lời Chúa.

Hallelujah (Philippians 2:15d, 16a)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Shine like lights in the world
as you hold on to the word of life.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (Pl 2:15d, 16a)

Hallelujah. Hallelujah. Giữa thế gian, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòng trời, là làm sáng tỏ lời ban sự sống. Hallelujah.

Gospel (Matthew 22:15-21)

A reading from the holy Gospel according to Saint Matthew

The Pharisees went off
and plotted how they might entrap Jesus in speech. 
They sent their disciples to him, with the Herodians, saying,
"Teacher, we know that you are a truthful man
and that you teach the way of God in accordance with the truth.
And you are not concerned with anyone's opinion,
for you do not regard a person's status.
Tell us, then, what is your opinion:
Is it lawful to pay the census tax to Caesar or not?" 
Knowing their malice, Jesus said,
"Why are you testing me, you hypocrites? 
Show me the coin that pays the census tax." 
Then they handed him the Roman coin. 
He said to them, "Whose image is this and whose inscription?" 
They replied, "Caesar's."
At that he said to them,
"Then repay to Caesar what belongs to Caesar
and to God what belongs to God."

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng (Mt 22:15-21)

Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

15 Khi ấy, những người Pha-ri-sêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy. 16 Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. 17 Vậy xin Thầy cho biết ý kiến : có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?”

18 Nhưng Đức Giê-su biết họ có ác ý, nên Người nói : “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ đạo đức giả ! 19 Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế !” Họ liền đưa cho Người một quan tiền. 20 Người hỏi họ : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” 21 Họ đáp : “Của Xê-da.” Bấy giờ, Người bảo họ : “Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”

Đó là Lời Chúa.

Prayer of the Faithful




7 tháng 10, 2026

Hymns for the Twenty-eighth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (October 11, 2026)

 -Entrance Hymn: ES # 189 “I Sing The Mighty Power Of God”


-Responsorial Psalm (Psalm 23:1-3a, 3b-4, 5, 6) - EM pages 229-230



R. (6cd) I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
Đ. Này tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.

The LORD is my shepherd; I shall not want.
In verdant pastures he gives me repose;
beside restful waters he leads me;
he refreshes my soul.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
1 Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
2 Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
3a và bổ sức cho tôi.
Đ. Này tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.

He guides me in right paths
for his name's sake.
Even though I walk in the dark valley
I fear no evil; for you are at my side
with your rod and your staff
that give me courage.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
3b Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
4 Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

You spread the table before me
in the sight of my foes;
you anoint my head with oil;
my cup overflows.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
5 Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc
ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Only goodness and kindness follow me
all the days of my life;
and I shall dwell in the house of the LORD
for years to come.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
6 Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Hallelujah (Cf. Ephesians 1:17-18)

R. Hallelujah, Hallelujah.
May the Father of our Lord Jesus Christ
enlighten the eyes of our hearts,
so that we may know what is the hope
that belongs to our call.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (xin coi Ep 1:17-18)

Hallelujah. Hallelujah. Xin Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta. Hallelujah.

Prayer of the Faithful


-Offertory Hymn: ES # 187 "The Supper Of The Lord"


-Communion Hymn: ES # 320 “The God Of All Grace”


-Recessional Hymn: ES # 386 “Salve, Regina”



The Holy Spirit Choir

6 tháng 10, 2026

Twenty-eighth Sunday in Ordinary Time, Liturgical Year A (October 11, 2026)

Daily Mass Reading Podcast for October 11, 2026


First Reading (Isaiah 25:6-10a)

A reading from the Book of the Prophet Isaiah

On this mountain the LORD of hosts
will provide for all peoples
a feast of rich food and choice wines,
juicy, rich food and pure, choice wines.
On this mountain he will destroy
the veil that veils all peoples,
the web that is woven over all nations;
he will destroy death forever.
The Lord GOD will wipe away
the tears from every face;
the reproach of his people he will remove
from the whole earth; for the LORD has spoken.
On that day it will be said:
"Behold our God, to whom we looked to save us!
This is the LORD for whom we looked;
let us rejoice and be glad that he has saved us!"
For the hand of the LORD will rest on this mountain.

The word of the Lord.

Bài đọc 1 (Is 25:6-10a)

Đức Chúa sẽ đãi một bữa tiệc và sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

6Ngày ấy, trên núi này,
Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc :
tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon,
thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế.
7Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân,
và tấm màn trùm lên muôn nước.
8Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần.
Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ
trên khuôn mặt mọi người,
và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch
nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy.
9Ngày ấy, người ta sẽ nói : “Đây là Thiên Chúa chúng ta,
chúng ta từng trông đợi Người,
và đã được Người thương cứu độ.
Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông.
Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ.”
10aVì bàn tay Đức Chúa sẽ lại đặt trên núi này.

Đó là Lời Chúa.

Responsorial Psalm (Psalm 23:1-3a, 3b-4, 5, 6) - EM pages 229-230



R. (6cd) I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
Đ. Này tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.

The LORD is my shepherd; I shall not want.
In verdant pastures he gives me repose;
beside restful waters he leads me;
he refreshes my soul.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
1 Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
2 Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
3a và bổ sức cho tôi.
Đ. Này tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.

He guides me in right paths
for his name's sake.
Even though I walk in the dark valley
I fear no evil; for you are at my side
with your rod and your staff
that give me courage.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
3b Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
4 Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

You spread the table before me
in the sight of my foes;
you anoint my head with oil;
my cup overflows.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
5 Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc
ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Only goodness and kindness follow me
all the days of my life;
and I shall dwell in the house of the LORD
for years to come.
R. I shall live in the house of the Lord all the days of my life.
6 Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.
Đ. Này tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.

Second Reading (Philippians 4:12-14, 19-20)

A reading from the Letter of Saint Paul to the Philippians

Brothers and sisters:
I know how to live in humble circumstances;
I know also how to live with abundance.
In every circumstance and in all things
I have learned the secret of being well fed and of going hungry,
of living in abundance and of being in need. 
I can do all things in him who strengthens me. 
Still, it was kind of you to share in my distress.

My God will fully supply whatever you need,
in accord with his glorious riches in Christ Jesus.
To our God and Father, glory forever and ever. Amen.

The word of the Lord.

Bài đọc 2 (Pl 4:12-14, 19-20)

Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.

12 Thưa anh em, tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. 13 Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết. 14 Tuy nhiên, anh em đã chia sẻ với tôi, khi tôi gặp cơn quẫn bách, như thế là phải. 19 Thiên Chúa của tôi sẽ thoả mãn mọi nhu cầu của anh em một cách tuyệt vời, theo sự giàu sang của Người trong Đức Ki-tô Giê-su. 20 Xin tôn vinh Thiên Chúa là Cha chúng ta, đến muôn thuở muôn đời ! A-men.

Đó là Lời Chúa.

Hallelujah (Cf. Ephesians 1:17-18)

R. Hallelujah, Hallelujah.
May the Father of our Lord Jesus Christ
enlighten the eyes of our hearts,
so that we may know what is the hope
that belongs to our call.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Tung hô Tin Mừng (xin coi Ep 1:17-18)

Hallelujah. Hallelujah. Xin Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta. Hallelujah.

Gospel (Matthew 22:1-14)

A reading from the holy Gospel according to Saint Matthew

Jesus again in reply spoke to the chief priests and elders of the people 
in parables, saying, 
"The kingdom of heaven may be likened to a king
who gave a wedding feast for his son. 
He dispatched his servants
to summon the invited guests to the feast,
but they refused to come.
A second time he sent other servants, saying,
'Tell those invited: "Behold, I have prepared my banquet,
my calves and fattened cattle are killed,
and everything is ready; come to the feast."'
Some ignored the invitation and went away,
one to his farm, another to his business. 
The rest laid hold of his servants,
mistreated them, and killed them. 
The king was enraged and sent his troops,
destroyed those murderers, and burned their city. 
Then he said to his servants, 'The feast is ready,
but those who were invited were not worthy to come. 
Go out, therefore, into the main roads
and invite to the feast whomever you find.'
The servants went out into the streets
and gathered all they found, bad and good alike,
and the hall was filled with guests. 
But when the king came in to meet the guests,
he saw a man there not dressed in a wedding garment. 
The king said to him, 'My friend, how is it
that you came in here without a wedding garment?'
But he was reduced to silence.
Then the king said to his attendants, 'Bind his hands and feet,
and cast him into the darkness outside,
where there will be wailing and grinding of teeth.'
Many are invited, but few are chosen."

The Gospel of the Lord.

Tin Mừng (Mt 22:1-14)

Gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : 2 “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. 3 Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. 4 Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ : ‘Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng : Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới !’ 5 Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi : kẻ thì đi thăm nông trại, người thì đi buôn, 6 còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà hành hạ và giết chết. 7 Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng. 8 Rồi nhà vua bảo đầy tớ : ‘Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. 9 Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.’ 10 Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

11 “Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, 12 mới hỏi người ấy : ‘Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới ?’ Người ấy câm miệng không nói được gì. 13 Nhà vua liền bảo những người phục dịch : ‘Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng ! 14 Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít’.”

Đó là Lời Chúa.

Prayer of the Faithful




1 tháng 10, 2026

Hymns for the Solemnity of the Most Holy Rosary (Oct 4, 2026)

 -Entrance Hymn: ES # 381 “Magnificat”



-Responsorial Psalm (1 Sm 2:1, 4-5, 6-7, 8abcd) - EM pages 273-274

R. (see 1a) My heart exults in the Lord, my Savior.
Ðáp: Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, Ðấng Cứu độ tôi.

“My heart exults in the LORD,
my horn is exalted in my God.
I have swallowed up my enemies;
I rejoice in my victory.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng: 
Tâm hồn con hoan hỷ vì Đức Chúa,
nhờ Đức Chúa, con ngẩng đầu hiên ngang.
Con mở miệng nhạo báng quân thù:
Vâng, con vui sướng vì được Ngài cứu độ.

“The bows of the mighty are broken,
while the tottering gird on strength.
The well-fed hire themselves out for bread,
while the hungry batten on spoil.
The barren wife bears seven sons,
while the mother of many languishes.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng:
Cung nỏ người hùng bị bẻ tan,
kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng.
Người no phải làm mướn kiếm ăn,
còn kẻ đói được an nhàn thư thái.
Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy,
mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn.

“The LORD puts to death and gives life;
he casts down to the nether world;
he raises up again.
The LORD makes poor and makes rich,
he humbles, he also exalts.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng:
Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử,
đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên.
Đức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có,
Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao.

“He raises the needy from the dust;
from the dung heap he lifts up the poor,
To seat them with nobles
and make a glorious throne their heritage.”
R. My heart exults in the Lord, my Savior.
Xướng:
Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi,
ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro,
đặt ngồi chung với hàng quyền quý,
tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng.

Hallelujah (Lk 1:28)

R. Hallelujah, Hallelujah.
Hail Mary, full of grace, the Lord is with you;
blessed are you among women.
R. Hallelujah, Hallelujah.

Hallelujah (Lc 1:28)

Hallelujah, Hallelujah! – Kính chào Đức Ma-ri-a, Mẹ đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người phụ nữ. – Hallelujah.


Prayer Of The Faithful


-Offertory Hymn: "Lord, We Gather Today"



-Communion Hymn: ES # 326 “All Good Gifts”


-Recessional Hymn: ES # 385 “Immaculate Mary”



The Holy Spirit Choir