Tìm Kiếm

27 tháng 2, 2018

26 tháng 2, 2018

Third Sunday of Lent Year B ( March 4, 2018) - Bible Readings






Reading 1   Ex 20:1-17

In those days, God delivered all these commandments:
"I, the LORD, am your God,
who brought you out of the land of Egypt, that place of slavery.
You shall not have other gods besides me.
You shall not carve idols for yourselves
in the shape of anything in the sky above
or on the earth below or in the waters beneath the earth;
you shall not bow down before them or worship them.
For I, the LORD, your God, am a jealous God,
inflicting punishment for their fathers' wickedness
on the children of those who hate me,
down to the third and fourth generation;
but bestowing mercy down to the thousandth generation
on the children of those who love me and keep my commandments.

"You shall not take the name of the LORD, your God, in vain.
For the LORD will not leave unpunished
the one who takes his name in vain.

"Remember to keep holy the sabbath day.
Six days you may labor and do all your work,
but the seventh day is the sabbath of the LORD, your God.
No work may be done then either by you, or your son or daughter,
or your male or female slave, or your beast,
or by the alien who lives with you.
In six days the Lord made the heavens and the earth,
the sea and all that is in them;
but on the seventh day he rested.
That is why the LORD has blessed the sabbath day and made it holy.

"Honor your father and your mother,
that you may have a long life in the land
which the LORD, your God, is giving you.
You shall not kill.
You shall not commit adultery.
You shall not steal.
You shall not bear false witness against your neighbor.
You shall not covet your neighbor's house.
You shall not covet your neighbor's wife,
nor his male or female slave, nor his ox or ass,
nor anything else that belongs to him."
Bài đọc 1: Xh 20, 1-17

Trong những ngày ấy, Chúa phán bảo những lời sau đây: Ta là Thiên Chúa ngươi, Ðấng đã dẫn dắt ngươi ra khỏi vùng Ai-cập, khỏi nhà nô lệ. Ngươi không được thờ thần nào khác trước mặt Ta, đừng chạm trổ tượng gỗ, hay vẽ hình các vật trên trời, dưới đất, trong nước, dưới lòng đất. Ðừng thờ lạy và phụng sự các hình tượng ấy, vì Ta là Chúa, Thiên Chúa ngươi, Chúa hùng mạnh, Chúa ganh tị, trừng phạt con vì tội lỗi cha, cho đến ba bốn đời, những kẻ ghét Ta; Ta tỏ lòng nhân lành đến ngàn đời đối với những ai kính mến Ta và tuân giữ các giới răn Ta.
Ngươi đừng lấy danh Chúa, Thiên Chúa ngươi, mà lường gạt, vì Chúa không thể không trừng phạt kẻ nào lấy danh Người mà lường gạt.
Ngươi hãy nhớ thánh hoá ngày Sabbat. Ngươi làm lụng và làm tất cả mọi việc trong sáu ngày, còn ngày thứ bảy là ngày Sabbat, thì thuộc về Chúa, Thiên Chúa ngươi; trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi tớ nam nữ, súc vật, ngoại kiều trọ trong nhà ngươi, tất cả không được làm việc gì. Vì trong sáu ngày, Chúa đã tạo dựng trời, đất, biển, và tất cả mọi vật trong đó, rồi Người nghỉ trong ngày thứ bảy: cho nên Chúa chúc phúc và thánh hoá ngày Sabbat.
Ngươi hãy tôn kính cha mẹ, để ngươi được sống lâu dài trong xứ mà Thiên Chúa sẽ ban cho ngươi. Ngươi chớ giết người, chớ phạm tội ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối hại anh em mình, chớ tham lam nhà của kẻ khác, chớ ham muốn vợ bạn hữu, tôi tớ nam nữ, bò lừa và bất cứ vật gì của bạn hữu.



Responsorial Psalm    Ps 19:8, 9, 10, 11.

R. Lord, you have the words of everlasting life.
The law of the LORD is perfect,
refreshing the soul;
The decree of the LORD is trustworthy,
giving wisdom to the simple.
R. Lord, you have the words of everlasting life.
The precepts of the LORD are right,
rejoicing the heart;
the command of the LORD is clear,
enlightening the eye.
R. Lord, you have the words of everlasting life.
The fear of the LORD is pure,
enduring forever;
the ordinances of the LORD are true,
all of them just.
R. Lord, you have the words of everlasting life.
They are more precious than gold,
than a heap of purest gold;
sweeter also than syrup
or honey from the comb.
R. Lord, you have the words of everlasting life.


Đáp ca: Tv 18, 8. 9. 10. 11
Ðáp: Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).
Xướng: Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt.
Xướng: Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt.
Xướng: Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thực, công minh hết thảy.
Xướng: Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng, ngọt hơn mật và hơn cả mật tàng ong.



Reading 2  1 Cor 1:22-25

Brothers and sisters:
Jews demand signs and Greeks look for wisdom,
but we proclaim Christ crucified,
a stumbling block to Jews and foolishness to Gentiles,
but to those who are called, Jews and Greeks alike,
Christ the power of God and the wisdom of God.
For the foolishness of God is wiser than human wisdom,
and the weakness of God is stronger than human strength.

Bài đọc 2:  1 Cr 1, 22-25


Anh em thân mến, các người Do-thái đòi hỏi những dấu lạ, những người Hy-lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do-thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo, nhưng đối với những người được gọi, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, thì Ngài là Ðức Kitô, quyền năng của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Chúa Cha, vì sự điên rồ của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan của loài người, và điều yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự mạnh mẽ của loài người.
 
Verse Before the Gospel  Jn 3:16
God so loved the world that he gave his only Son,
so that everyone who believes in him might have eternal life.

Gospel   Jn 2:13-25

Since the Passover of the Jews was near,
Jesus went up to Jerusalem.
He found in the temple area those who sold oxen, sheep, and doves,
as well as the money changers seated there.
He made a whip out of cords
and drove them all out of the temple area, with the sheep and oxen,
and spilled the coins of the money changers
and overturned their tables,
and to those who sold doves he said,
"Take these out of here,
and stop making my Father's house a marketplace."
His disciples recalled the words of Scripture,
Zeal for your house will consume me.
At this the Jews answered and said to him,
"What sign can you show us for doing this?"
Jesus answered and said to them,
"Destroy this temple and in three days I will raise it up."
The Jews said,
"This temple has been under construction for forty-six years,
and you will raise it up in three days?"
But he was speaking about the temple of his body.
Therefore, when he was raised from the dead,
his disciples remembered that he had said this,
and they came to believe the Scripture
and the word Jesus had spoken.

While he was in Jerusalem for the feast of Passover,
many began to believe in his name
when they saw the signs he was doing.
But Jesus would not trust himself to them because he knew them all,
and did not need anyone to testify about human nature.
He himself understood it well.

Tin mừng: Ga 2, 13 - 25



Lễ Vượt Qua của dân Do-thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêru-salem. Người thấy ở trong Ðền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc, người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ. Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: "Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán". Môn đệ liền nhớ lại câu Kinh Thánh: "Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi".
Bầy giờ người Do-thái bảo Người rằng: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy". Chúa Giêsu trả lời: "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại". Người Do-thái đáp lại: "Phải bốn mươi sáu năm mới xây được đền thờ này, mà Ông, Ông sẽ dựng lại trong ba ngày ư?" Nhưng Người, Người có ý nói đền thờ là thân thể Người. Vì thế, khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lời đó, nên đã tin Kinh Thánh và tin lời Người đã nói.
Trong thời gian Người ở lại Giêrusalem mừng lễ Vượt qua, nhiều kẻ tin danh Người, vì mục kích những phép lạ Người làm. Nhưng chính Chúa Giêsu không tin tưởng họ, vì Người biết tất cả mọi người, và không cần ai làm chứng về người nào; Người biết rõ mọi điều trong lòng người ta.