Tìm Kiếm

10 tháng 2, 2016

First Sunday of Lent – Year C (Feb 14, 2016)


First Reading (Dt 26:4-10)
A reading from the Book of Deuteronomy
Moses spoke to the people, saying:
“The priest shall receive the basket from you
and shall set it in front of the altar of the LORD, your God.
Then you shall declare before the Lord, your God,
‘My father was a wandering Aramean
who went down to Egypt with a small household
and lived there as an alien.
But there he became a nation
great, strong, and numerous.
When the Egyptians maltreated and oppressed us,
imposing hard labor upon us,
we cried to the LORD, the God of our fathers,
and he heard our cry
and saw our affliction, our toil, and our oppression.
He brought us out of Egypt
with his strong hand and outstretched arm,
with terrifying power, with signs and wonders;
and bringing us into this country,
he gave us this land flowing with milk and honey.
Therefore, I have now brought you the firstfruits
of the products of the soil
which you, O LORD, have given me.’
And having set them before the Lord, your God,
you shall bow down in his presence.”

Bài đọc I (Dt 26:4-10)
Ông Moses nói với dân chúng rằng: 4 Tư tế sẽ nhận lấy giỏ từ tay anh em và đem đặt trước bàn thờ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em.
5 Bấy giờ, anh em sẽ lên tiếng thưa trước tôn nhan Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em rằng:
6 Người Ai-cập đã ngược đãi, hành hạ chúng tôi và đặt ách nô lệ trên vai chúng tôi.
7 Bấy giờ chúng tôi đã kêu lên cùng Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng tôi; Người đã nghe tiếng chúng tôi, đã thấy cảnh khổ cực, lầm than, áp bức chúng tôi phải chịu.
8 Đức Chúa đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền, đã gây kinh hồn táng đởm và thực hiện những dấu lạ điềm thiêng, để đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập.
9 Người đã đưa chúng tôi vào đây, ban cho chúng tôi đất này, đất tràn trề sữa và mật.
10 Và bây giờ, lạy Đức Chúa, này con xin dâng sản phẩm đầu mùa của đất đai mà Ngài đã ban cho con."

Responsorial Psalm (Ps 91:1-2, 10-11, 12-13, 14-15)
R. Be with me, Lord, when I am in trouble.
R. Lạy Chúa, lúc ngặt nghèo, xin Chúa ở kề bên.


You who dwell in the shelter of the Most High, who abide in the shadow of the Almighty, say to the LORD, “My refuge and fortress, my God in whom I trust.” R.
Hỡi ai nương tựa Đấng Tối Cao và núp bóng Đấng Toàn Năng, hãy thưa với Chúa rằng: “Lạy Thiên Chúa, Ngài là nơi con náu ẩn, là đồn lũy chở che, con tín thác vào Ngài.” R.

No evil shall befall you, nor shall affliction come near your tent, For to his angels he has given command about you, that they guard you in all your ways. R.
Bạn sẽ không gặp điều ác hại, và tai ương không bén mảng tới nhà, bởi vì Người truyền lệnh cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường. R.

Upon their hands they shall bear you up, lest you dash your foot against a stone. You shall tread upon the asp and the viper; you shall trample down the lion and the dragon. R.
Thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá. Bạn có thể giẫm lên hùm thiêng rắn độc, đạp nát đầu sư tử khủng long. R.

Because he clings to me, I will deliver him; I will set him on high because he acknowledges my name. He shall call upon me, and I will answer him; I will be with him in distress; I will deliver him and glorify him. R.
Kẻ gắn bó cùng, Ta sẽ được ơn giải thoát; người nhận biết danh Ta sẽ được ơn phù trì. Khi kêu đến Ta, Ta liền đáp lại; lúc ngặt nghèo có Ta ở kề bên,  Ta giải cứu và ban nhiều vinh dự. R.

Second Reading (Rom 10:8-13)
A reading from the Letter of Saint Paul to the Romans
Brothers and sisters:
What does Scripture say?
The word is near you,
in your mouth and in your heart
—that is, the word of faith that we preach—,
for, if you confess with your mouth that Jesus is Lord
and believe in your heart that God raised him from the dead,
you will be saved.
For one believes with the heart and so is justified,
and one confesses with the mouth and so is saved.
For the Scripture says,
No one who believes in him will be put to shame.
For there is no distinction between Jew and Greek;
the same Lord is Lord of all,
enriching all who call upon him.
For “everyone who calls on the name of the Lord will be saved.”

Bài đọc II (Rom 10:8-13)
8 Vậy Kinh Thánh nói gì? Thưa: Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng. Lời đó chính là lời chúng tôi rao giảng để khơi dậy đức tin.
9 Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ.
10 Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ.
11 Kinh Thánh nói: Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng.
12 Như vậy, không có sự khác biệt giữa người Do-thái và người Hy-lạp, vì tất cả đều có cùng một Chúa, là Đấng quảng đại đối với tất cả những ai kêu cầu Người.
13 Vì: Tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát.

Gospel (Lk 4:1-13)
Filled with the Holy Spirit, Jesus returned from the Jordan
and was led by the Spirit into the desert for forty days,
to be tempted by the devil.
He ate nothing during those days,
and when they were over he was hungry.
The devil said to him,
“If you are the Son of God,
command this stone to become bread.”
Jesus answered him,
“It is written, One does not live on bread alone.”
Then he took him up and showed him
all the kingdoms of the world in a single instant.
The devil said to him,
“I shall give to you all this power and glory;
for it has been handed over to me,
and I may give it to whomever I wish.
All this will be yours, if you worship me.”
Jesus said to him in reply,
“It is written:
You shall worship the Lord, your God,
and him alone shall you serve.”
Then he led him to Jerusalem,
made him stand on the parapet of the temple, and said to him,
“If you are the Son of God,
throw yourself down from here, for it is written:
He will command his angels concerning you, to guard you,
and:
With their hands they will support you,
lest you dash your foot against a stone.”
Jesus said to him in reply,
“It also says,
You shall not put the Lord, your God, to the test.”
When the devil had finished every temptation,
he departed from him for a time.

Phúc âm (Lk 4:1-13)
1 Đức Giê-su được đầy Thánh Thần, từ sông Gio-đan trở về.
2 Suốt bốn mươi ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói.
3 Bấy giờ, quỷ nói với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hoá bánh đi!"
4 Nhưng Đức Giê-su đáp lại: "Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh."
5 Sau đó, quỷ đem Đức Giê-su lên cao, và trong giây lát, chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ. 6 Rồi nó nói với Người: "Tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này, vì quyền hành ấy đã được trao cho tôi, và tôi muốn cho ai tuỳ ý.
7 Vậy nếu ông bái lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông."
8 Đức Giê-su đáp lại: "Đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi."
9 Quỷ lại đem Đức Giê-su đến Giê-ru-sa-lem và đặt Người trên nóc Đền Thờ, rồi nói với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng đây mà gieo mình xuống đi!
10 Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn.
11 Lại còn chép rằng: Thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá."
12 Bấy giờ Đức Giê-su đáp lại: "Đã có lời rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi." 13 Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ.