Tìm Kiếm

21 tháng 1, 2019

Third Sunday in Ordinary Time - Year C (Jan 27, 2019)


FIRST READING: Neh 8:2-4a, 5-6, 8-10

A reading from the Book of Nehemiah
Ezra the priest brought the law before the assembly, which consisted of men, women, and those children old enough to understand. Standing at one end of the open place that was before the Water Gate, he read out of the book from daybreak till midday, in the presence of the men, the women, and those children old enough to understand; and all the people listened attentively to the book of the law. Ezra the scribe stood on a wooden platform that had been made for the occasion. He opened the scroll so that all the people might see it — for he was standing higher up than any of the people —; and, as he opened it, all the people rose. Ezra blessed the LORD, the great God, and all the people, their hands raised high, answered, "Amen, amen!" Then they bowed down and prostrated themselves before the LORD, their faces to the ground. Ezra read plainly from the book of the law of God, interpreting it so that all could understand what was read. Then Nehemiah, that is, His Excellency, and Ezra the priest-scribe and the Levites who were instructing the people said to all the people: "Today is holy to the LORD your God. Do not be sad, and do not weep"— for all the people were weeping as they heard the words of the law. He said further: "Go, eat rich foods and drink sweet drinks, and allot portions to those who had nothing prepared; for today is holy to our LORD. Do not be saddened this day, for rejoicing in the LORD must be your strength!"

BÀI ĐỌC I: Nkm 8:2-4a, 5-6, 8-10

(2) Hôm ấy là ngày mồng một tháng thứ bảy, ông Ét-ra cũng là tư tế đem sách Luật ra trước mặt cộng đồng gồm đàn ông, đàn bà và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn. (3) Ông đứng ở quảng trường phía trước cửa Nước, đọc sách Luật trước mặt đàn ông, đàn bà và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn. Ông đọc từ sáng sớm tới trưa, và toàn dân lắng tai nghe sách Luật. (4) Kinh sư Ét-ra đứng trên bục gỗ đã đóng sẵn để dùng vào việc này. (5) Ông Ét-ra mở sách ra trước mặt toàn dân, vì ông đứng cao hơn mọi người. Khi ông mở sách ra thì mọi người đứng dậy. 6 Bấy giờ ông Ét-ra chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa vĩ đại, và toàn dân giơ tay lên đáp rằng: "A-men! A-men!" Rồi họ sấp mặt sát đất mà thờ lạy Đức Chúa. (8) Ông Ét-ra và các thầy Lê-vi đọc rõ ràng và giải thích sách Luật của Thiên Chúa, nhờ thế mà toàn dân hiểu được những gì các ông đọc. (9) Bấy giờ ông Nơ-khe-mi-a, tổng đốc, ông Ét-ra, tư tế kiêm kinh sư, cùng các thầy Lê-vi là những người đã giảng giải Luật Chúa cho dân chúng, nói với họ rằng: "Hôm nay là ngày thánh hiến cho Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, anh em đừng sầu thương khóc lóc." Sở dĩ ông nói thế là vì toàn dân đều khóc khi nghe lời sách Luật. (10) Ông Ét-ra còn nói với dân chúng rằng: "Anh em hãy về ăn thịt béo, uống rượu ngon và gửi phần cho những người không sẵn của ăn, vì hôm nay là ngày thánh hiến cho Chúa chúng ta. Anh em đừng buồn bã, vì niềm vui của Đức Chúa là thành trì bảo vệ anh em."

RESPONSORIAL PSALM: Ps 19:8, 9, 10, 15

R. Your words, Lord, are Spirit and life.
R. Lạy Chúa, Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống.


The law of the LORD is perfect, refreshing the soul; The decree of the LORD is trustworthy, giving wisdom to the simple. R.
   Luật pháp Chúa quả là toàn thiện, làm hoan lạc tâm can. Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn. R.

The precepts of the LORD are right, rejoicing the heart; The command of the LORD is clear, enlightening the eye. R.
   Huấn lệnh Chúa hoàn toàn ngay thẳng, làm hoan hỉ cõi lòng. Mệnh lệnh Chúa xiết bao minh bạch, cho đôi mắt rạng ngời. R.

The fear of the LORD is pure, enduring forever; The ordinances of the LORD are true, all of them just. R.
   Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng, tồn tại đến muôn đời. Quyết định Chúa phù hợp chân lý, hết thảy đều công minh. R.

Let the words of my mouth and the thought of my heart find favor before you, O LORD, my rock and my redeemer. R.
   Xin Chúa nhậm những lời miệng con công bố và sự lòng con suy gẫm trước Thiên Nhan. Lạy Chúa là Đá Tảng và là Đấng Cứu Chuộc con. R.

SECOND READING: 1 Cor 12:12-30

A reading from the first Letter of Saint Paul to the Corinthians
Brothers and sisters: As a body is one though it has many parts, and all the parts of the body, though many, are one body, so also Christ. For in one Spirit we were all baptized into one body, whether Jews or Greeks, slaves or free persons, and we were all given to drink of one Spirit.
Now the body is not a single part, but many. If a foot should say, "Because I am not a hand I do not belong to the body, " it does not for this reason belong any less to the body. Or if an ear should say, "Because I am not an eye I do not belong to the body, "
it does not for this reason belong any less to the body. If the whole body were an eye, where would the hearing be? If the whole body were hearing, where would the sense of smell be? But as it is, God placed the parts, each one of them, in the body as he intended. If they were all one part, where would the body be? But as it is, there are many parts, yet one body. The eye cannot say to the hand, "I do not need you, " nor again the head to the feet, "I do not need you." Indeed, the parts of the body that seem to be weaker are all the more necessary, and those parts of the body that we consider less honorable we surround with greater honor, and our less presentable parts are treated with greater propriety, whereas our more presentable parts do not need this. But God has so constructed the body as to give greater honor to a part that is without it, so that there may be no division in the body, but that the parts may have the same concern for one another. If one part suffers, all the parts suffer with it; if one part is honored, all the parts share its joy.
Now you are Christ's body, and individually parts of it. Some people God has designated in the church to be, first, apostles; second, prophets; third, teachers; then, mighty deeds; then gifts of healing, assistance, administration, and varieties of tongues. Are all apostles? Are all prophets? Are all teachers? Do all work mighty deeds? Do all have gifts of healing? Do all speak in tongues? Do all interpret?

BÀI ĐỌC II: 1 Cr 12,12-30

(12) Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Ki-tô cũng vậy. (13) Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất. (14) Thật vậy, thân thể gồm nhiều bộ phận, chứ không phải chỉ có một mà thôi. (15) Giả như chân có nói: "Tôi không phải là tay, nên tôi không thuộc về thân thể", thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. (16) Giả như tai có nói: "Tôi không phải là mắt, vậy tôi không thuộc về thân thể", thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. (17) Giả như toàn thân chỉ là mắt, thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tai, thì lấy gì mà ngửi? (18) Nhưng Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn. (19) Giả như tất cả chỉ là một thứ bộ phận, thì làm sao mà thành thân thể được? (20) Như thế, bộ phận tuy nhiều mà thân thể chỉ có một. (21) Vậy mắt không có thể bảo tay: "Tao không cần đến mày"; đầu cũng không thể bảo hai chân: "Tao không cần chúng mày." (22) Hơn nữa, những bộ phận xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất; (23) và những bộ phận ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả. Những bộ phận kém trang nhã, thì ta lại mặc cho chúng trang nhã hơn hết. (24) Còn những bộ phận trang nhã thì không cần gì cả. Nhưng Thiên Chúa đã khéo xếp đặt các bộ phận trong thân thể, để bộ phận nào kém thì được tôn trọng nhiều hơn. (25) Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. (26) Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung. (27) Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Ki-tô, và mỗi người là một bộ phận. (28) Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ. (29) Chẳng lẽ ai cũng là tông đồ? Chẳng lẽ ai cũng là ngôn sứ, ai cũng là thầy dạy sao? Chẳng lẽ ai cũng được ơn làm phép lạ, (30) ai cũng được ơn chữa bệnh sao? Chẳng lẽ ai cũng nói được các tiếng lạ, ai cũng giải thích được các tiếng lạ sao?

GOSPEL: Lk 1:1-4, 4:14-21

Since many have undertaken to compile a narrative of the events that have been fulfilled among us, just as those who were eyewitnesses from the beginning and ministers of the word have handed them down to us, I too have decided, after investigating everything accurately anew, to write it down in an orderly sequence for you, most excellent Theophilus, so that you may realize the certainty of the teachings you have received. Jesus returned to Galilee in the power of the Spirit, and news of him spread throughout the whole region. He taught in their synagogues and was praised by all. He came to Nazareth, where he had grown up, and went according to his custom into the synagogue on the sabbath day. He stood up to read and was handed a scroll of the prophet Isaiah. He unrolled the scroll and found the passage where it was written: The Spirit of the Lord is upon me, because he has anointed me to bring glad tidings to the poor. He has sent me to proclaim liberty to captives and recovery of sight to the blind, to let the oppressed go free, and to proclaim a year acceptable to the Lord. Rolling up the scroll, he handed it back to the attendant and sat down, and the eyes of all in the synagogue looked intently at him. He said to them, "Today this Scripture passage is fulfilled in your hearing."

PHÚC ÂM: Lc 1:1-4, 4:14-21

(1) Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta. (2) Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta. (3) Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài, (4) mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc. (14) Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. (15) Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh. (16) Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. (17) Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: (18) Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, (19) công bố một năm hồng ân của Chúa. (20) Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. (21) Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."