Tìm Kiếm

16 tháng 5, 2019

Fifth Sunday of Easter - Year C (May 19, 2019)


FIRST READING: Acts 14:21-27

A reading from the Acts of the Apostles
After Paul and Barnabas had proclaimed the good news to that city and made a considerable number of disciples, they returned to Lystra and to Iconium and to Antioch. They strengthened the spirits of the disciples and exhorted them to persevere in the faith, saying, "It is necessary for us to undergo many hardships to enter the kingdom of God." They appointed elders for them in each church and, with prayer and fasting, commended them to the Lord in whom they had put their faith. Then they traveled through Pisidia and reached Pamphylia. After proclaiming the word at Perga they went down to Attalia. From there they sailed to Antioch, where they had been commended to the grace of God for the work they had now accomplished. And when they arrived, they called the church together and reported what God had done with them and how he had opened the door of faith to the Gentiles.

BÀI ĐỌC I: Cv 14:21-27

Bài Trích sách Tông đồ Công vụ.
(21) Sau khi đã loan Tin Mừng cho thành ấy và nhận khá nhiều người làm môn đệ, hai ông trở lại Lýt-ra, I-cô-ni-ô và An-ti-ô-khi-a. (22) Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ, và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin. Hai ông nói: "Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa." (23) Trong mỗi Hội Thánh, hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục, và sau khi ăn chay cầu nguyện, hai ông phó thác những người đó cho Chúa, Đấng họ đã tin. (24) Hai ông đi qua miền Pi-xi-đi-a mà đến miền Pam-phy-li-a, (25) rao giảng lời Chúa tại Péc-ghê, rồi xuống Át-ta-li-a. (26) Từ đó hai ông vượt biển về An-ti-ô-khi-a, là nơi trước đây các ông đã được giao phó cho ân sủng của Thiên Chúa để làm công việc vừa mới hoàn thành. (27) Khi tới nơi, hai ông tập họp Hội Thánh và kể lại tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông, và việc Người đã mở cửa cho các dân ngoại đón nhận đức tin.

RESPONSORIAL PSALM: Ps 145:8-9, 10-11, 12-13

R. I will praise your name for ever, my king and my God.
R. Lạy Thiên Chúa là Vua của con, xin chúc tụng Thánh Danh Ngài muôn thuở muôn đời.


The LORD is gracious and merciful, slow to anger and of great kindness. The LORD is good to all and compassionate toward all his works. R.
   Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, và tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. R.

Let all your works give you thanks, O LORD, and let your faithful ones bless you. Let them discourse of the glory of your kingdom and speak of your might. R.
   Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài. Nói lên rằng triều đại Ngài vinh hiển và xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng. R.

Let them make known your might to the children of Adam, and the glorious splendor of your kingdom. Your kingdom is a kingdom for all ages, and your dominion endures through all generations. R.
   Để con cháu Adam được tường quyền năng của Ngài, và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang.Triều đại Ngài thiên niên vĩnh cửu, vương quyền Ngài vại đại trường tồn. R.

SECOND READING: Rev 21:1-5a

A reading from the Book of Revelation
Then I, John, saw a new heaven and a new earth. The former heaven and the former earth had passed away, and the sea was no more. I also saw the holy city, a new Jerusalem, coming down out of heaven from God, prepared as a bride adorned for her husband. I heard a loud voice from the throne saying, "Behold, God's dwelling is with the human race. He will dwell with them and they will be his people and God himself will always be with them as their God. He will wipe every tear from their eyes, and there shall be no more death or mourning, wailing or pain, for the old order has passed away."
The One who sat on the throne said, "Behold, I make all things new."

BÀI ĐỌC II: Kh 21:1-5a

Bài trích sách Khải huyền của thánh Gio-an tông đồ.
(1) Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. (2) Và tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. (3) Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: "Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. (4) Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất." (5) Đấng ngự trên ngai phán: "Này đây Ta đổi mới mọi sự." Rồi Người phán: "Ngươi hãy viết: Đây là những lời đáng tin cậy và chân thật."

GOSPEL: Jn 13:31-33a, 34-35

When Judas had left them, Jesus said, "Now is the Son of Man glorified, and God is glorified in him. If God is glorified in him, God will also glorify him in himself, and God will glorify him at once. My children, I will be with you only a little while longer. I give you a new commandment: love one another. As I have loved you, so you also should love one another. This is how all will know that you are my disciples, if you have love for one another."

PHÚC ÂM: Ga 13:31-33a, 34-35

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
(31) Khi Giu-đa đi rồi, Đức Giê-su nói: "Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. (32) Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người. (33) Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái: "Nơi tôi đi, các người không thể đến được", bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. (34) Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (35) Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau."