Tìm Kiếm

11 tháng 2, 2019

Sixth Sunday in Ordinary Time - Year C (Feb 17, 2019)


FIRST READING: Jer 17:5-8

A reading from the Book of the Prophet Jeremiah
Thus says the LORD: Cursed is the one who trusts in human beings, who seeks his strength in flesh, whose heart turns away from the LORD. He is like a barren bush in the desert that enjoys no change of season, but stands in a lava waste, a salt and empty earth. Blessed is the one who trusts in the LORD, whose hope is the LORD. He is like a tree planted beside the waters that stretches out its roots to the stream: it fears not the heat when it comes; its leaves stay green; in the year of drought it shows no distress, but still bears fruit.

BÀI ĐỌC I: Gr 17:5-8

(5) Đức Chúa phán như sau: Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa! (6) Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ, hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra, nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy, trong vùng đất mặn không một bóng người. (7) Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân. (8) Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái.

RESPONSORIAL PSALM: Ps 1:1-2, 3, 4, 6

R. Blessed are they who hope in the Lord.
R. Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa.


Blessed the man who follows not the counsel of the wicked, nor walks in the way of sinners, nor sits in the company of the insolent, but delights in the law of the LORD and meditates on his law day and night. R.
   Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng, nhưng vui thoả trong lề luật Chúa, và suy ngắm luật Chúa đêm ngày. R.

He is like a tree planted near running water, that yields its fruit in due season, and whose leaves never fade. Whatever he does, prospers. R.
   Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa; lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt. R.

Not so the wicked, not so; they are like chaff which the wind drives away. For the LORD watches over the way of the just, but the way of the wicked vanishes. R.
   Kẻ gian ác không được như vậy; họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi, vì Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong. R.

SECOND READING: 1 Cor 15:12, 16-20

A reading from the first Letter of Saint Paul to the Corinthians
Brothers and sisters: If Christ is preached as raised from the dead, how can some among you say there is no resurrection of the dead? If the dead are not raised, neither has Christ been raised, and if Christ has not been raised, your faith is vain; you are still in your sins. Then those who have fallen asleep in Christ have perished. If for this life only we have hoped in Christ, we are the most pitiable people of all. But now Christ has been raised from the dead, the firstfruits of those who have fallen asleep.

BÀI ĐỌC II: 1 Cr 15:12, 16-20

(12) Nhưng nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Ki-tô đã từ cõi chết trỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? (16) Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Ki-tô cũng đã không trỗi dậy. (17) Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. (18) Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Ki-tô cũng bị tiêu vong. (19) Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. (20) Nhưng không phải thế! Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu.

GOSPEL: Lk 6:17, 20-26

Jesus came down with the twelve and stood on a stretch of level ground with a great crowd of his disciples and a large number of the people from all Judea and Jerusalem and the coastal region of Tyre and Sidon. And raising his eyes toward his disciples he said: “Blessed are you who are poor, for the kingdom of God is yours. Blessed are you who are now hungry, for you will be satisfied. Blessed are you who are now weeping, for you will laugh. Blessed are you when people hate you, and when they exclude and insult you, and denounce your name as evil on account of the Son of Man. Rejoice and leap for joy on that day! Behold, your reward will be great in heaven. For their ancestors treated the prophets in the same way. But woe to you who are rich, for you have received your consolation. Woe to you who are filled now, for you will be hungry. Woe to you who laugh now, for you will grieve and weep. Woe to you when all speak well of you, for their ancestors treated the false prophets in this way.”

PHÚC ÂM: Lc 6:17, 20-26

(17) Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn (20) Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói: "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. (21) "Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. "Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. (22) "Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. (23) Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế. (24) "Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. (25) "Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. "Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than. (26) "Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.